12 Tháng Tám, 2020

Radon trong nhà – điều đó có nghĩa gì?

 

Chúng ta có thể đã nghe về khí Radon – về tính phóng xạ của nó, và rằng nó có thể lọt vào trong nhà. Các câu hỏi đặt ra là: Khí Radon là gì? Bằng cách nào mà nó lọt vào nhà? Nó có hại không? Có thể làm gì để tránh tác hại của nó? Những câu hỏi này sẽ được trả lời trong bài viết dưới đây.

Radon là một loại khí có tính phóng xạ tự nhiên. Nó sinh ra từ sự phân rã phóng xạ của Uran, đó là chất có ở hầu khắp mọi nơi trong lớp vỏ trái đất. Khi một nguyên tử phóng xạ phân rã, hạt nhân của nó (thuộc loại không bền) thay đổi, chuyển thành hạt nhân của nguyên tố khác, và được gọi là hạt nhân con. Tại cùng thời điểm đó, một lượng phóng xạ được phát ra dưới dạng hạt alpha hoặc beta, hoặc một hay nhiều tia gamma. Uran phân rã hết thành một chuỗi các hạt nhân phóng xạ con, chúng thường giữ nguyên vị trí cũ nhờ liên kết hoá học với vật chất chứa Uran cho đến khi Radon được hình thành. Radon, có tính trơ hoá học, không liên kết với các nguyên tử vật chất chủ của nó, và thoát qua các vết rạn và lỗ trống rất nhỏ trong mặt đất, rồi khuyếch tán vào không khí, từ đó chúng ta có thể hít phải. Đó là hiện tượng tự nhiên trong cuộc sống.

Radon ảnh hưởng đến sức khoẻ như thế nào?

Các hạt nhân con của Radon cũng có tính phóng xạ. Khi chúng ta hít phải Radon và các hạt nhân con của nó, một số phân rã phóng xạ sẽ xảy ra trong phổi chúng ta. Các hạt alpha được sinh ra có thể gây tổn hại đến mô phổi. Tổn hại như thế có thể dẫn đến ung thư phổi. Từ khi bệnh ung thư bắt đầu xuất hiện do phóng xạ, cho đến khi nó phát triển tới mức có thể quan sát được các biểu hiện lâm sàng, phải mất một khoảng thời gian trễ nhiều năm. Nguy cơ ung thư phổi phát triển do sự chiếu xạ của Radon tuỳ thuộc vào lượng khí Radon mà chúng ta hít phải. Càng có nhiều Radon trong không khí, nguy cơ càng lớn. Tương tự, khoảng thời gian chúng ta hít thở trong không khí chứa Radon đó càng dài thì nguy cơ càng lớn.

Radon được đo như thế nào?

Khối lượng Radon có trong không khí có thể được đo bằng cách sử dụng các thiết bị nhạy để phát hiện và đếm lượng phóng xạ phát ra khi Radon và các nguyên tử con của nó phân rã. Bởi vì nồng độ khí Radon trong nhà thấp và có thể biến thiên, nên các phép đo Radon thường được thực hiện bằng cách sử dụng một thiết bị giám sát phóng xạ tích luỹ thông tin qua một khoảng thời gian dài, thường là từ 3 tháng đến 1 năm. Việc đo Radon được thực hiện theo đặc tính hoạt độ, đó là tốc độ phân rã phóng xạ đang xảy ra trong số các nguyên tử Radon, và tốc độ đó tỷ lệ với số các nguyên tử Radon đang có. Đơn vị đo hoạt độ là becơren. Nếu không khí chứa một becơren Radon trong một mét khối (1 Bq m-3), điều đó nghĩa là sẽ có trung bình một phân rã phóng xạ của một nguyên tử Radon trong một giây đối với mỗi một mét khối không khí.

Radon ở đâu thì thành vấn đề?

Trong không khí ngoài trời, nồng độ Radon thấp. Nếu chúng ta tập hợp một trăm triệu, triệu, triệu (1020) phân tử không khí (khoảng một thìa cà phê đầy) chúng ta có thể tìm thấy khoảng mười nguyên tử Radon trong đó. Tuy nhiên, ở trong nhà thì nồng độ Radon có thể cao hơn do hiệu ứng bẫy Radon. Các mức Radon thường rất hay thay đổi, tuỳ thuộc vào dòng khí qua nhà. Có một số nơi mà ở đó các mức Radon có thể rất cao: trong một số hang, động, chẳng hạn, hoặc trong một mỏ Uranium dưới lòng đất được thông khí kém.

Các nguy cơ ảnh hưởng sức khoẻ nghiêm trọng tới mức nào?

Việc đánh giá nguy cơ ảnh hưởng sức khoẻ phần lớn dựa trên bằng chứng về tỷ lệ mắc phải ung thư phổi trong số các công nhân mỏ Uranium trong quá khứ. Các mỏ hiện đại được thông khí tốt để giữ cho nồng độ Radon thấp, nhưng những thời kỳ trước đây, các công nhân mỏ Uranium đã nhận những liều phóng xạ rất cao từ Radon mà họ đã hít vào. Dựa trên bằng chứng đó, các hệ số rủi ro được ước tính, chúng cho mối liên hệ giữa nguy cơ phát triển ung thư phổi với nồng độ Radon trong không khí. Bởi vì đây là vấn đề rất khó nghiên cứu, nên có một vài sự ước tính khác nhau giữa các nhóm nghiên cứu khoa học khác nhau, nhưng nói chung chúng phù hợp với dải khoảng từ một đến hai phần triệu cho mỗi Bq m-3. Điều này có nghĩa là nếu một triệu người bị chiếu xạ trong một năm bởi Radon trong không khí với nồng độ 1 Bq m-3 trong nhà, một hoặc hai người trong số họ có thể chắc rằng cuối cùng sẽ chết vì ung thư phổi do phóng xạ gây ra.

Khi nào thì cần can thiệp để giảm các mức Radon?

Ngoài trời, nồng độ Radon thường vào khoảng 10 Bq m-3. Trong nhà, nồng độ Radon có thể từ 20 đến 10.000 Bq m-3, hoặc nhiều hơn nữa.

Hiện nay, Việt Nam chưa khuyến cáo mức nồng độ Radon trong nhà bao nhiêu là Mức Can thiệp. Nhưng, nhiều nước đã khuyến cáo rằng, nồng độ Radon trung bình hằng năm trong một ngôi nhà không nên vượt quá 200 Bq m-3 (Mức Can thiệp). Nếu ngôi nhà nào có mức Radon vượt quá Mức Can thiệp nói trên, thì chủ nhà nên liên hệ với Cục Kiểm soát và An toàn bức xạ, hạt nhân thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ để đề nghị được tư vấn. Đối với một số ngôi nhà mà mức Radon vượt quá Mức Can thiệp nói trên, có một số biện pháp đơn giản có thể được thực hiện để làm giảm các mức Radon xuống.

Làm thế nào để có thể giảm các mức Radon?

Hầu như phần lớn Radon trong một ngôi nhà có nồng độ Radon cao đều phát ra từ nền nhà. Radon khuếch tán ra khỏi mặt đất và vào trong nhà. Một phương pháp để ngăn cản khí Radon xâm nhập vào ngôi nhà là lắp đặt màng HDPE Gutta T20 hoặc Guttabeta Star 530 kN ngay dưới sàn nền tiếp đất. 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

              Nguồn: Tài liệu phổ biến kiến thức của Cục Kiểm soát và an toàn bức xạ, hạt nhân

 

Những bài viết khác